Trang chủ Lifehacks Pháp luật được ban hành để hướng dẫn 2023

Pháp luật được ban hành để hướng dẫn 2023

bởi sharescript_songoku

QUỐC
HỘI
——–

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Luật
số: 80/2015/QH13


Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2015

 

LUẬT

BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật.

Luật này không quy định việc làm Hiến
pháp, sửa đổi Hiến pháp.

Điều
2. Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm
pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.

Văn bản có chứa
quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình
tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Điều
3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này,
các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quy phạm
pháp luật
là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng
lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước
hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy
định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

2. Đối tượng
chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật
là cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng
văn bản đó sau khi được ban hành.

3. Giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội làm rõ
tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để
có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật.

Điều
4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1. Hiến pháp.

2. Bộ luật, luật
(sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.

3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị
quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

4. Lệnh, quyết
định của Chủ tịch nước.

5. Nghị định của
Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

6. Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ.

7. Nghị quyết của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

9. Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh).

10. Quyết định
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

11. Văn bản quy
phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

12. Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

13. Quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp huyện.

14. Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

15. Quyết định
của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Điều
5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Bảo đảm tính
hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong
hệ thống pháp luật.

2. Tuân thủ
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.

3. Bảo đảm tính
minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

4. Bảo đảm tính
khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản
quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy
phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

5. Bảo đảm yêu
cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện
các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

6. Bảo đảm công
khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ
quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Điều
6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1. Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên
khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có quyền và được tạo điều
kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật.

2. Trong quá
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo
và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

3. Ý kiến tham
gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.

Điều
7. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu
trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn bản do mình
trình.

2. Cơ quan, tổ
chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm trước cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự án, dự thảo văn bản
được phân công soạn thảo.

3. Cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm
về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.

4. Cơ quan thẩm
định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm định
đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật.

Cơ quan thẩm
tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về kết quả thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

5. Quốc hội, Hội
đồng nhân dân và cơ quan khác, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.

6. Cơ quan, người
có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết
thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

7. Cơ quan, người
có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ,
quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết có nội dung ngoài phạm vi
được giao quy định chi tiết.

8. Người đứng đầu
cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan
thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và
tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và
quy định khác của pháp luật có liên quan trong trường hợp dự thảo văn bản không
bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp
pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được phân công thực hiện.

Điều
8. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật

1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.

Ngôn ngữ sử dụng
trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải
rõ ràng, dễ hiểu.

2. Văn bản quy phạm
pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung
chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm
pháp luật khác.

3. Tùy theo nội
dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu
mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy
phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương
riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản
quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

4. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thể thức và kỹ thuật
trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch nước.

Chính phủ quy định
về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan,
người có thẩm quyền khác được quy định trong Luật này.

Điều
9. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài

Văn bản quy phạm
pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài; bản dịch
có giá trị tham khảo.

Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.

Điều 10. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

1. Số, ký hiệu
của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm ban hành, loại
văn bản, cơ quan ban hành văn bản.

2. Việc đánh số
thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản và năm ban
hành. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội được đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc hội.

3. Số, ký hiệu
của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:

a) Số, ký hiệu
của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản:
số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và
số khóa Quốc hội”;

b) Số, ký hiệu
của pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự
như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ
quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;

c) Số, ký hiệu
của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a
và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ tự của văn bản/năm
ban hành/tên viết tắt của loại văn bản – tên viết tắt của cơ quan ban hành văn
bản”.

Điều 11. Văn bản quy định chi tiết

1. Văn bản quy
phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được
ngay. Trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến
quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy định chi tiết thì
ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định chi tiết. Văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được
giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết.

2. Cơ quan được
giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp. Dự thảo văn bản
quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh
và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc
điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.

3. Trường hợp một
cơ quan được giao quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm
pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, trừ
trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.

Trường hợp một
cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung của nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết.

Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc
thi hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy
phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình
chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm
quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành
văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều,
khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc
thi hành.

Văn bản bãi bỏ
văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

2. Khi ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, bãi
bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm
pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn
bản mới đó; trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ
trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản,
điểm của văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành trái với quy định của
văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn
bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.

3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng
thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật do cùng cơ quan ban hành.

Điều 13. Gửi văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án, dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền để giám sát, kiểm tra.

Chậm nhất là 03
ngày kể từ ngày công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc ký chứng thực, ký ban hành đối với văn bản quy
phạm pháp luật khác, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật có trách nhiệm gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản
1 Điều 164 của Luật này để giám sát, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 3
Điều 165, khoản 1 Điều 166 hoặc khoản 1 Điều 167 của Luật này để kiểm tra.

2. Hồ sơ dự án,
dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định
của pháp luật về lưu trữ.

Điều 14. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên.

2. Ban hành văn
bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật
này nhưng có chứa quy phạm pháp luật.

3. Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy
định tại Luật này.

4. Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định
của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được
giao trong luật.

Chương II

THẨM
QUYỀN BAN HÀNH, NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 15. Luật, nghị quyết của Quốc hội

1. Quốc hội ban
hành luật để quy định:

a) Tổ chức và
hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa
phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

b) Quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định;
việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;

c) Chính sách
cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc
bãi bỏ các thứ thuế;

d) Chính sách
cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;

đ) Quốc phòng,
an ninh quốc gia;

e) Chính sách
dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

g) Hàm, cấp
trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác;
huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

h) Chính sách
cơ bản về đối ngoại;

i) Trưng cầu ý
dân;

k) Cơ chế bảo vệ
Hiến pháp;

l) Vấn đề khác
thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

2. Quốc hội ban
hành nghị quyết để quy định:

a) Tỷ lệ phân
chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương;

b) Thực hiện
thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng
chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;

c) Tạm ngưng hoặc
kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội
đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân;

d) Quy định về
tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc
gia;

đ) Đại xá;

e) Vấn đề khác
thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Điều 16. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:

a) Giải thích
Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

b) Tạm ngưng hoặc
kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội;

c) Bãi bỏ pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì
Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;

d) Tổng động
viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc
ở từng địa phương;

đ) Hướng dẫn hoạt
động của Hội đồng nhân dân;

e) Vấn đề khác
thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 17. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Chủ tịch nước
ban hành lệnh, quyết định để quy định:

1. Tổng động
viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ vào nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả
nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể
họp được.

2. Vấn đề khác
thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.

Điều 18. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội
hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ủy ban thường vụ
Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật
giao.

Điều 19. Nghị định của Chính phủ

Chính phủ ban hành
nghị định để quy định:

1. Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

2. Các biện
pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế – xã hội, quốc phòng, an
ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục,
y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công
chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền
quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn
của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm
quyền của Chính phủ.

3. Vấn đề cần
thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều
kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản
lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng
ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 20. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Thủ tướng Chính
phủ ban hành quyết định để quy định:

1. Biện pháp
lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ
trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính
quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

2. Biện pháp chỉ
đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong
việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Điều 21. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao

Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống
nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc
việc xét xử.

Điều 22. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân
dân và Tòa án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được Luật tổ chức Tòa án
nhân dân và luật khác có liên quan giao.

Điều 23. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao

Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định những vấn đề được Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân và luật khác có liên quan giao.

Điều 24. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:

1. Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Biện pháp thực
hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.

Điều 25. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối
hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.

Điều 26. Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

Tổng Kiểm toán
nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy
trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.

Điều 27. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:

1. Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên.

2. Chính sách, biện
pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên.

3. Biện pháp nhằm
phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

4. Biện pháp có
tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa
phương.

Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:

1. Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên.

2. Biện pháp
thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc
phòng, an ninh ở địa phương.

3. Biện pháp thực
hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.

Điều 29. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt

Hội đồng nhân
dân ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân
ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo quy định của Luật
này và các luật khác có liên quan.

Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy
ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

Hội đồng nhân
dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.

Chương III

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Mục
1. LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 31. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hằng năm trên cơ sở đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội,
quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

2. Quốc hội quyết
định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp thứ nhất của năm trước.

Điều 32. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức

1. Chủ tịch nước,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức
thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án
pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh.

2. Đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh phải dựa trên các căn cứ sau đây:

a) Đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

b) Kết quả tổng
kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến
chính sách của dự án luật, pháp lệnh;

c) Yêu cầu quản
lý nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh;

d) Cam kết
trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.

Điều 33. Kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh của đại biểu Quốc hội

1. Đại biểu Quốc
hội có quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh. Việc kiến nghị về luật, pháp lệnh phải
căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; yêu cầu
phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cam kết trong điều ước quốc tế có
liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Đại biểu Quốc
hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này.

3. Đại biểu Quốc
hội có quyền tự mình hoặc đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn
phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc lập
văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

4. Văn phòng Quốc
hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện
quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trong việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

1. Trước khi lập
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội tiến hành
hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

a) Tổng kết việc
thi hành pháp luật có liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; khảo sát,
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Tổ chức
nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan để hỗ trợ cho việc lập đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh; nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh;

c) Xây dựng nội
dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đánh giá tác động của
chính sách;

d) Dự kiến nguồn
lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.

2. Chuẩn bị hồ
sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

3. Tổ chức lấy
ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý.

4. Đối với đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình thì cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh còn có trách nhiệm lấy ý kiến của
Chính phủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Chính phủ.

Điều 35. Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh

1. Cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh.

Trong quá trình
soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, nếu
có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính sách đó có trách nhiệm
đánh giá tác động của chính sách.

2. Nội dung
đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải
nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện
chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của
các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của
cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành
chính, tác động về giới (nếu có).

3. Cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh
giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự
thảo báo cáo.

4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.

Điều 36. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

1. Cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm sau
đây:

a) Đăng tải báo
cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội, đại biểu Quốc hội, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đối với đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ
chức có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là 30
ngày;

b) Lấy ý kiến Bộ
Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên
quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và giải pháp thực hiện
chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết,
tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh;

c) Tổng hợp,
nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình,
tiếp thu trên cổng thông tin điện tử quy định tại khoản này.

2. Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có
trách nhiệm góp ý bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Bộ Tài
chính có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có
trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm
gửi báo cáo đánh giá về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm gửi báo
cáo đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh với hệ thống pháp luật đến cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
lập đề nghị.

Điều 37. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến
nghị về luật, pháp lệnh

1. Hồ sơ đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm:

a) Tờ trình đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: sự cần thiết ban hành luật,
pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều
chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây
dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và
lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành
luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua; thời
gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án
luật, pháp lệnh;

b) Báo cáo đánh
giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

c) Báo cáo tổng
kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

d) Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư
pháp và ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác; bản chụp ý kiến góp ý;

đ) Đề cương dự thảo luật, pháp lệnh.

2. Văn bản kiến
nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi
điều chỉnh, mục đích, yêu cầu ban hành, quan điểm, chính sách, nội dung chính của
luật, pháp lệnh.

Điều 38. Trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do
Chính phủ trình

1. Đối với các
dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc
theo phân công của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh.

2. Bộ, cơ quan
ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động quy định
tại Điều 34 của Luật này.

Điều 39. Thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính
phủ trình

1. Bộ Tư pháp
chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ
chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trước khi trình
Chính phủ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh.

2. Các bộ, cơ
quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm gửi hồ sơ đề
nghị đến Bộ Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại khoản 1
Điều 37 của Luật này.

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này được gửi bằng bản giấy, các
tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm
định tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Sự cần thiết
ban hành luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh;

b) Sự phù hợp của
nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

c) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật và tính khả
thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực
hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

d) Tính tương
thích của nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với điều ước quốc
tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

đ) Sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách trong đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; việc
lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nếu
chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

e) Việc tuân thủ
trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

4. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại
khoản 3 Điều này và ý kiến của Bộ Tư pháp về việc đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.

5. Báo cáo thẩm
định phải được gửi đến bộ, cơ quan ngang bộ đã lập đề nghị xây dựng luật, pháp
lệnh chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến
thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và đồng thời
gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được chỉnh lý kèm theo báo cáo giải
trình, tiếp thu cho Bộ Tư pháp khi trình Chính phủ.

Điều 40. Trình Chính phủ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do
Chính phủ trình

1. Bộ, cơ quan
ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm trình Chính phủ hồ
sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 20 ngày trước ngày tổ chức
phiên họp của Chính phủ.

2. Hồ sơ trình
Chính phủ bao gồm:

a) Tài liệu quy
định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;

b) Báo cáo thẩm
định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm
định;

c) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này và điểm b khoản này được gửi
bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

Điều 41. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh do Chính phủ trình

Chính phủ tổ chức
phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau
đây:

1. Đại diện bộ,
cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày Tờ trình đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Đại diện Bộ
Tư pháp trình bày Báo cáo thẩm định.

3. Đại diện cơ
quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.

4. Chính phủ thảo
luận và biểu quyết thông qua chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật, pháp
lệnh. Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số các thành viên Chính phủ
biểu quyết tán thành.

5. Chính phủ ra
nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông
qua.

Điều 42. Chỉnh lý và gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
do Chính phủ trình

Bộ, cơ quan
ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan có
liên quan hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở nghị quyết
của Chính phủ và gửi Bộ Tư pháp để lập đề nghị của Chính phủ về chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 43. Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh

1. Chính phủ lập
đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bộ Tư pháp có
trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
trên cơ sở các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được Chính phủ thông qua.

2. Chính phủ
xem xét, thảo luận đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình
tự sau đây:

a) Đại diện Bộ
Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Đại diện cơ
quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

c) Chính phủ thảo
luận;

d) Chính phủ biểu
quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị của
Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa
tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.

Điều 44. Chính phủ cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh

1. Đối với đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật,
pháp lệnh thì trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về
luật, pháp lệnh quy định tại Điều 37 của Luật này để Chính phủ cho ý kiến.

Chính phủ có
trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được hồ sơ đề nghị, văn bản kiến nghị.

2. Bộ Tư pháp
chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến của
Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và
kiến nghị về luật, pháp lệnh để Chính phủ thảo luận.

3. Chính phủ
xem xét, thảo luận về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình
và kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Bộ
Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ;

b) Đại diện cơ
quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

c) Chính phủ thảo
luận;

d) Thủ tướng
Chính phủ kết luận.

4. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm chỉnh lý dự thảo ý kiến của Chính phủ trên cơ sở kết luận của Thủ
tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Điều 45. Trách nhiệm lập và xem xét, thông qua đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình

1. Chủ tịch nước,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán
nhà nước, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu
cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận chỉ đạo việc lập đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh; phân công cơ quan, đơn vị chủ trì lập đề nghị.

2. Cơ quan, đơn
vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động
quy định tại Điều 34 của Luật này.

Đối với đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, đơn vị được phân công lập đề nghị có trách nhiệm lấy ý kiến của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trước khi báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.

3. Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận tổ
chức phiên họp để xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo
trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày tờ
trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Đại diện
Chính phủ phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

c) Đại diện cơ
quan, tổ chức khác tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận thảo
luận và biểu quyết thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận biểu quyết
tán thành.

4. Chủ tịch nước,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
Kiểm toán nhà nước xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo
trình tự sau đây:

a) Cơ quan, đơn
vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo Chủ tịch nước,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
Kiểm toán nhà nước về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Chủ tịch nước,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
Kiểm toán nhà nước xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

5. Đại biểu Quốc
hội tự mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ để lập đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh; trường hợp đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thì đại biểu
Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo
trình tự sau đây:

a) Cơ quan hỗ
trợ đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo đại biểu Quốc
hội về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

b) Đại biểu Quốc
hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

Điều 46. Thời hạn và hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh,
kiến nghị về luật, pháp lệnh

1. Chậm nhất vào
ngày 01 tháng 3 của năm trước, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về
luật, pháp lệnh phải được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời được gửi đến Ủy ban pháp luật
của Quốc hội để thẩm tra.

2. Hồ sơ đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc
hội được gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định sau đây:

a) Đối với đề
nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, hồ sơ gồm tờ trình
của Chính phủ; dự kiến chương trình và bản điện tử các tài liệu quy định tại
khoản 1 Điều 37 của Luật này;

b) Đối với đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội, hồ
sơ gồm tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Luật này và ý kiến của
Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử các tài liệu
còn lại quy định tại Điều 37 của Luật này.

Đối với kiến
nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì tài liệu gồm văn bản kiến nghị
về luật, pháp lệnh và ý kiến của Chính phủ về kiến nghị về luật, pháp lệnh.

Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị
về luật, pháp lệnh

1. Ủy ban pháp
luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại
biểu Quốc hội.

Nội dung thẩm
tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính
sách cơ bản của văn bản, tính thống nhất, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, thời điểm
trình, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản.

2. Hội đồng dân
tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban pháp luật trong việc
thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh và phát
biểu ý kiến về sự cần thiết ban hành, chính sách của văn bản, thứ tự ưu tiên
trình dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do mình phụ trách.

Điều 48. Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh
theo trình tự sau đây:

a) Đại diện
Chính phủ trình bày tờ trình đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh; ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình,
kiến nghị về luật, pháp lệnh.

Đại diện cơ
quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có thể được mời phát biểu ý kiến về đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của mình;

b) Đại diện Ủy
ban pháp luật trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại biểu
tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Đại diện
Chính phủ, đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trình bày bổ sung những vấn đề được
nêu ra tại phiên họp;

e) Chủ tọa
phiên họp kết luận.

2. Căn cứ vào đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị
về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban pháp luật,
Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Hồ sơ dự kiến
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm tờ trình và dự thảo nghị quyết của Quốc
hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử hồ sơ quy định
tại khoản 2 Điều 46 của Luật này. Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.

3. Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên
quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh.

Điều 49. Trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh

1. Quốc hội xem
xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau
đây:

a) Đại diện Ủy
ban thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về dự kiến chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh;

b) Quốc hội thảo
luận tại phiên họp toàn thể về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự kiến chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội;

c) Sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được
Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ủy ban pháp
luật chủ trì, phối hợp với đại diện Chính phủ và cơ quan, tổ chức có liên quan
nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu,
chỉnh lý dự thảo nghị quyết;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị
quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

đ) Quốc hội biểu
quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Nghị quyết về
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ tên dự án luật, pháp lệnh và
thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
dự án đó.

Điều 50. Triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo và triển khai việc thực hiện chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh thông qua các hoạt động sau đây:

a) Phân công cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết;
cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra dự
án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

Trong trường hợp
Ủy ban thường vụ Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội thì
Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm
tra.

Trong trường hợp
Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra;

b) Thành lập
Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định tại khoản
1 Điều 52 của Luật này;

c) Quyết định
tiến độ xây dựng dự án luật, pháp lệnh và các biện pháp cụ thể để bảo đảm việc
thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

2. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc
hội trong việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

3. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo để
trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc việc
soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình.

Điều 51. Điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trình dự án luật, pháp lệnh quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh trong các trường hợp sau đây:

a) Đưa ra khỏi
chương trình các dự án luật, pháp lệnh không cần thiết phải ban hành do có sự
thay đổi về tình hình kinh tế – xã hội hoặc điều chỉnh thời điểm trình trong
trường hợp cần thiết;

b) Bổ sung vào
chương trình các dự án luật, pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu cấp thiết phát triển
kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tính mạng, tài sản của Nhân dân;
các dự án luật, pháp lệnh cần sửa đổi theo các văn bản mới được ban hành để bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật hoặc để thực hiện điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Việc bổ sung
vào chương trình được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 32 đến Điều
42, các điều 44, 45, 47 và khoản 1 Điều 48 của Luật này.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất về việc điều chỉnh
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Mục
2. SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT

Điều 52. Thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì
soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo
trong những trường hợp sau đây:

a) Dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực;

b) Dự án luật,
dự thảo nghị quyết do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình;

c) Dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do đại biểu Quốc hội trình, thành phần Ban soạn
thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của đại biểu Quốc hội.

2. Dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì Thủ tướng Chính phủ giao
cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo, cơ quan được giao chủ trì
soạn thảo có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo, trừ trường hợp quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này.

3. Dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan, tổ chức
đó có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo và chủ trì soạn thảo, trừ trường hợp
quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

Điều 53. Thành phần Ban soạn thảo

1. Ban soạn thảo
gồm Trưởng ban là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và thành
viên khác là đại diện cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức có
liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Đối với Ban soạn thảo dự án luật, pháp
lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì thành phần Ban soạn thảo phải
có các thành viên là đại diện lãnh đạo Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ. Ban
soạn thảo phải có ít nhất là chín người.

2. Thành viên
Ban soạn thảo là chuyên gia, nhà khoa học phải là người am hiểu các vấn đề
chuyên môn liên quan đến dự án, dự thảo và có điều kiện tham gia đầy đủ các hoạt
động của Ban soạn thảo.

Điều 54. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo, Trưởng Ban soạn thảo,
thành viên Ban soạn thảo

1. Ban soạn thảo
có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ
soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức chủ
trì soạn thảo.

2. Ban soạn thảo
có các nhiệm vụ sau đây:

a) Xem xét, thông
qua đề cương chi tiết dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;

b) Thảo luận về
nội dung của dự thảo văn bản, tờ trình, nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến của
cơ quan, tổ chức, cá nhân;

c) Bảo đảm các
quy định của dự thảo phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính hợp
hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; bảo đảm
tính khả thi của văn bản.

3. Trưởng Ban
soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:

a) Thành lập Tổ
biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo và chỉ đạo Tổ biên tập biên soạn và chỉnh
lý dự thảo văn bản;

b) Tổ chức các
cuộc họp và các hoạt động khác của Ban soạn thảo;

c) Phân công
nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban soạn thảo.

4. Thành viên
Ban soạn thảo có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các cuộc họp của Ban soạn thảo, chịu
trách nhiệm về chất lượng, tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, tính
khả thi của các nội dung được phân công trong dự thảo văn bản và tiến độ xây dựng
dự thảo văn bản; trường hợp vì lý do khách quan mà không tham dự được thì phải
có ý kiến góp ý bằng văn bản.

Điều 55. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo luật,
pháp lệnh, nghị quyết

1. Tổ chức xây
dựng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo mục đích, yêu cầu, phạm vi
điều chỉnh, chính sách đã được xây dựng trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp
lệnh; chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức trình dự án, dự thảo.

2. Chuẩn bị dự thảo, tờ trình và các tài liệu có liên quan đến
dự án, dự thảo.

3. Tổ chức lấy
ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự án, dự thảo và đăng tải
dự án, dự thảo trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36
của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo; tổng hợp và nghiên cứu,
giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu và
dự thảo văn bản đã được chỉnh lý trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.

4. Nghiên cứu,
tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc ý kiến tham gia của Chính phủ đối với dự án, dự
thảo không do Chính phủ trình.

5. Chuẩn bị báo
cáo giải trình về những chính sách mới phát sinh cần bổ sung vào dự án, dự thảo
để trình cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có thẩm quyền trình xem xét, quyết
định.

6. Dự kiến những
nội dung cần được giao quy định chi tiết trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị
quyết; kiến nghị phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết
các điều, khoản, điểm của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

7. Đối với dự án, dự thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình
và dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự mình soạn thảo thì cơ quan được Ủy
ban thường vụ Quốc hội giao chủ trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm
báo cáo tiến độ soạn thảo với Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đối với dự án,
dự thảo do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo
có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo
Chính phủ.

Trong quá trình
tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nếu có sự thay đổi lớn
về chính sách so với chính sách đã được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan
ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ xem xét, quyết định.

Điều 56. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có các
nhiệm vụ sau đây:

a) Chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo trong
quá trình soạn thảo.

Đối với dự án,
dự thảo do đại biểu Quốc hội tự mình soạn thảo thì đại biểu có thể đề nghị Văn
phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện
nghiên cứu lập pháp, cơ quan, tổ chức có liên quan hỗ trợ trong quá trình soạn
thảo;

b) Xem xét, quyết
định việc trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án, dự thảo; trường hợp
đặc biệt chưa thể trình dự án, dự thảo theo đúng tiến độ thì phải kịp thời báo
cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định và nêu rõ lý do.

2. Trường hợp dự
án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình thì chậm nhất
là 40 ngày trước ngày khai mạc phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải gửi
hồ sơ dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ cho ý kiến.

Điều 57. Lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết

1. Trong quá
trình soạn thảo văn bản, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo
phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ
chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy
ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo
văn bản và tờ trình trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều
36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất
là 60 ngày, trừ những văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để
các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Trong thời gian dự thảo đang được lấy
ý kiến, nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với
dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh
lý.

Đối với trường
hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả
lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

2. Ngoài đăng tải
để lấy ý kiến theo quy định tại khoản 1 Điều này, việc lấy ý kiến có thể thông
qua hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội
thảo, tọa đàm, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Cơ quan, tổ
chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến
góp ý và đăng tải nội dung giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của
Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức mình để Nhân dân biết.

4. Đối với dự
án, dự thảo do đại biểu Quốc hội soạn thảo, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp
có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến theo quy định tại Điều này.

Điều 58. Thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
do Chính phủ trình

1. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi
trình Chính phủ.

Đối với dự án,
dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do
Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định,
bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Tờ trình
Chính phủ về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn
bản;

c) Bản đánh giá
thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản, nếu trong dự án, dự thảo văn bản
có quy định thủ tục hành chính;

d) Báo cáo về lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có
quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

đ) Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý của các bộ, cơ quan
ngang bộ;

e) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo văn bản với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách
trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được thông qua;

b) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo
văn bản với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

c) Sự cần thiết,
tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản, nếu
trong dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;

d) Điều kiện bảo
đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

đ) Việc lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có
quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

e) Ngôn ngữ, kỹ
thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

Trong trường hợp
cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về những
vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo.

4. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định
tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ
điều kiện trình Chính phủ. Trong trường hợp Bộ Tư pháp kết luận dự án, dự thảo
chưa đủ điều kiện trình Chính phủ thì trả lại hồ sơ cho cơ quan chủ trì soạn thảo
để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo.

Báo cáo thẩm định
phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ gửi thẩm định.

5. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định
để chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo và đồng thời gửi báo cáo giải trình tiếp
thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình
Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

Điều 59. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
trình Chính phủ

1. Tờ trình
Chính phủ về dự án, dự thảo.

2. Dự thảo văn
bản.

3. Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định.

4. Bản đánh giá
thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có thủ tục
hành chính.

5. Báo cáo về lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có
quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.

6. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý.

7. Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại
được gửi bằng bản điện tử.

Điều 60. Chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết trước khi trình Chính phủ

Trong trường hợp
còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về dự án, dự thảo nghị
quyết thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại
diện lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ
có liên quan để thống nhất ý kiến trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các
cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình
Chính phủ.

Điều 61. Chính phủ xem xét, quyết định việc trình dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Chính phủ xem xét, thảo luận tập thể, biểu quyết theo đa số
để quyết định việc trình dự án, dự thảo tại phiên họp của Chính phủ theo trình
tự, thủ tục sau đây:

a) Đại diện cơ
quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo; việc giải trình, tiếp
thu ý kiến của cơ quan thẩm định;

b) Đại diện cơ
quan thẩm định phát biểu ý kiến về việc cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình,
tiếp thu ý kiến thẩm định;

c) Đại diện Văn
phòng Chính phủ trình bày những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự án, dự thảo;

d) Chính phủ thảo
luận;

đ) Chính phủ biểu
quyết về việc trình dự án, dự thảo.

2. Trong trường
hợp Chính phủ không thông qua việc trình dự án, dự thảo thì Thủ tướng Chính phủ
ấn định thời gian xem xét lại dự án, dự thảo.

Điều 62. Chính phủ cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình

1. Đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do
Chính phủ trình, thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
phải gửi các tài liệu sau đây để Chính phủ cho ý kiến:

a) Tờ trình Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn
bản;

c) Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;

d) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

2. Chính phủ có
trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận
được hồ sơ đề nghị và thể hiện rõ ý kiến của Chính phủ về dự án, dự thảo đủ điều
kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Bộ, cơ quan
ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công chuẩn bị ý kiến, chủ trì phối hợp với
Bộ Tư pháp dự kiến những nội dung cần cho ý kiến, trình Chính phủ xem xét, quyết
định.

Mục
3. THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT

Điều 63. Thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

1. Dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm
tra (sau đây gọi chung là cơ quan thẩm tra).

Hội đồng dân tộc,
Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực
do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội
giao; tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm
tra theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời đại diện Thường
trực Ủy ban pháp luật, Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội và đại diện cơ
quan khác được phân công tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để phát
biểu ý kiến về những nội dung của dự án, dự thảo liên quan đến lĩnh vực do cơ
quan đó phụ trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự án, dự thảo.

3. Cơ quan chủ
trì thẩm tra có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia,
nhà khoa học và đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản
tham dự cuộc họp do mình tổ chức để phát biểu ý kiến về những vấn đề liên quan
đến nội dung của dự án, dự thảo.

4. Cơ quan thẩm
tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo
báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề liên quan đến
nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo
tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo.

Cơ quan, tổ chức,
cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và đáp ứng các
yêu cầu khác của cơ quan thẩm tra.

Điều 64. Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết để thẩm tra

1. Hồ sơ dự án, dự thảo để thẩm tra bao gồm:

a) Tờ trình Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;

b) Dự thảo văn
bản;

c) Báo cáo thẩm
định đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình; ý kiến của Chính phủ đối với dự
án, dự thảo không do Chính phủ trình; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến
góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;

d) Báo cáo tổng
kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội
dung chính của dự án, dự thảo; báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự
án, dự thảo;

đ) Báo cáo về lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có
quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

e) Dự thảo văn
bản quy định chi tiết và tài liệu khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì
chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại
khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy ban về các vấn
đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

Đối với dự án,
dự thảo trình Quốc hội thì chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc
hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ
quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy
ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm
tra.

3. Cơ quan thẩm
tra không tiến hành thẩm tra dự án, dự thảo khi chưa đủ các tài liệu trong hồ
sơ hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này.

Điều 65. Nội dung thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết

Nội dung thẩm
tra tập trung vào các vấn đề sau đây:

1. Phạm vi, đối
tượng điều chỉnh của văn bản.

2. Nội dung của
dự thảo văn bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; việc giao và chuẩn bị
văn bản quy định chi tiết (nếu có).

3. Sự phù hợp của
nội dung dự thảo văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; tính
tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.

4. Tính khả thi
của các quy định trong dự thảo văn bản.

5. Điều kiện bảo
đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

6. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản,
nếu dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.

7. Ngôn ngữ, kỹ
thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

Trong trường hợp
cần thiết, cơ quan thẩm tra yêu cầu cơ quan trình dự án, dự thảo báo cáo về những
vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo.

Điều 66. Phương thức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết

1. Cơ quan chủ trì
thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra; đối với dự án, dự thảo
trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thì có thể
tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban để thẩm tra
sơ bộ.

2. Cơ quan chủ
trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra hoặc Thường trực cơ
quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra.

Điều 67. Báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết

1. Báo cáo thẩm
tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội
dung thẩm tra quy định tại Điều 65 của Luật này, đề xuất những nội dung cần sửa
đổi, bổ sung.

2. Báo cáo thẩm
tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến
của cơ quan tham gia thẩm tra về nội dung dự án, dự thảo; về việc dự án, dự thảo
đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội.

Trong trường hợp
cơ quan chủ trì thẩm tra có ý kiến dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện trình Ủy
ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội thì báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét
trả lại hồ sơ cho cơ quan trình dự án, dự thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện
dự án, dự thảo.

Điều 68. Trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra
để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp
lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật

1. Ủy ban pháp
luật có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội
chủ trì thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của
dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật.

2. Ủy ban pháp
luật tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn
bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của
cơ quan chủ trì thẩm tra.

3. Nội dung thẩm
tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo
với hệ thống pháp luật bao gồm:

a) Sự phù hợp của
quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với quy định của Hiến
pháp; sự phù hợp của quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

b) Sự thống nhất
về nội dung giữa quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với luật,
nghị quyết của Quốc hội; giữa quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban thường vụ Quốc hội với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
giữa các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; sự thống nhất về kỹ
thuật văn bản.

Điều 69. Trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc
thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết

1. Ủy ban về
các vấn đề xã hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan
khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm việc lồng ghép vấn đề bình đẳng
giới khi dự án, dự thảo đó có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.

2. Ủy ban về
các vấn đề xã hội tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy
ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp
thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

3. Nội dung thẩm
tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm:

a) Xác định vấn
đề giới trong dự án, dự thảo;

b) Việc bảo đảm
các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

c) Việc tuân thủ
trình tự, thủ tục đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự
thảo;

d) Tính khả thi
của các quy định trong dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới.

Mục
4. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI XEM XÉT, CHO Ý KIẾN VỀ DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ
QUYẾT CỦA QUỐC HỘI

Điều 70. Thời hạn gửi tài liệu cho Ủy ban thường vụ Quốc hội
xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội

Chậm nhất là 07
ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội phải gửi hồ
sơ quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để
cho ý kiến.

Dự thảo văn bản,
tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Cổng thông
tin điện tử của Quốc hội.

Điều 71. Trình tự Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến
về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội

1. Tùy theo
tính chất và nội dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến một lần hoặc nhiều lần.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về nội dung
cơ bản của dự án, dự thảo.

Đại diện Chính phủ
phát biểu ý kiến về dự án, dự thảo không do Chính phủ trình;

b) Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra, kiến nghị những vấn đề trình
ra Quốc hội tập trung thảo luận;

c) Đại diện cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Chủ tọa
phiên họp kết luận.

Điều 72. Tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết của
Quốc hội theo ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội

1. Trên cơ sở ý
kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự
án luật, dự thảo nghị quyết có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự
án, dự thảo.

Đối với dự án,
dự thảo do Chính phủ trình thì người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền trình có
trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự
án, dự thảo, trừ trường hợp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Trong trường
hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có
ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì báo cáo Quốc hội xem
xét, quyết định.

Mục
5. THẢO LUẬN, TIẾP THU, CHỈNH LÝ VÀ THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO
NGHỊ QUYẾT

Điều 73. Xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết

1. Quốc hội xem
xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội;
trường hợp dự án luật lớn, nhiều điều, khoản có tính chất phức tạp thì Quốc hội
có thể xem xét, thông qua tại ba kỳ họp.

Chậm nhất là 20
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội
phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một hoặc
hai phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chậm nhất là 20
ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo
phải được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Hồ sơ dự án,
dự thảo trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm các tài liệu quy định
tại khoản 1 Điều 64 của Luật này và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo.

Tờ trình, dự thảo
văn bản và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được gửi bằng bản giấy, các tài
liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

Điều 74. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị
quyết tại một kỳ họp Quốc hội

Quốc hội xem
xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội theo
trình tự sau đây:

1. Đại diện cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự
thảo.

2. Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra.

3. Quốc hội thảo
luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý
kiến khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể,
dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.

4. Trong quá trình
thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải
trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu Quốc hội nêu.

5. Đối với những
vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau
thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Cơ quan chủ trì
thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,
dự thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường
vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo
còn có ý kiến khác nhau trình Quốc hội biểu quyết.

6. Sau khi dự
án, dự thảo được các đại biểu Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Ủy ban thường vụ
Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
theo trình tự sau đây:

a) Cơ quan chủ
trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự
án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan
nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội;

b) Chậm nhất là
07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực
Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy
ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại
diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà
soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với
hệ thống pháp luật.

7. Ủy ban thường
vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

Trường hợp cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính
phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ,
cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

8. Quốc hội biểu
quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác
nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc
hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo.

9. Chủ tịch Quốc
hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

Trong trường hợp
dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem
xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo
theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 75. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị
quyết tại hai kỳ họp Quốc hội

Quốc hội xem
xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau
đây:

1. Tại kỳ họp
thứ nhất:

a) Đại diện cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự
thảo;

b) Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Quốc hội thảo
luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý kiến
khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự
án, dự thảo có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình
thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có
trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu
Quốc hội nêu;

d) Đối với những
vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau
thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Cơ quan chủ trì
thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,
dự thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường
vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo
còn có ý kiến khác nhau trình Quốc hội biểu quyết;

đ) Ủy ban thường
vụ Quốc hội chỉ đạo Tổng thư ký Quốc hội tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội
và kết quả biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.

2. Trong thời
gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc
nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:

a) Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan,
tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây
dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Cơ quan chủ trì thẩm
tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên
quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo
văn bản đã được chỉnh lý;

b) Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý; trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm tra
trong việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo thì đại diện cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem
xét, quyết định;

c) Ủy ban thường
vụ Quốc hội gửi dự thảo đã được chỉnh lý và báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý dự thảo đến Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Đoàn đại biểu
Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có
trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo tổng hợp ý kiến đến cơ
quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;

d) Cơ quan chủ
trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội
đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự
thảo và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban
thường vụ Quốc hội.

3. Tại kỳ họp
thứ hai:

a) Đại diện Ủy
ban thường vụ Quốc hội trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

Trường hợp cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính
phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ,
cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;

b) Quốc hội thảo
luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;

c) Ủy ban thường
vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự
thảo;

d) Chậm nhất là
07 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy
ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy
ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại
diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà
soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với
hệ thống pháp luật;

đ) Quốc hội biểu
quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác
nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc
hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

e) Chủ tịch Quốc
hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

Trong trường hợp
dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem
xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo
theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 76. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp
Quốc hội

Quốc hội xem
xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp theo trình tự sau đây:

1. Tại kỳ họp
thứ nhất, trình tự xem xét, thảo luận dự án luật được thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 75 của Luật này;

2. Trong thời
gian giữa kỳ họp thứ nhất và kỳ họp thứ hai của Quốc hội, việc nghiên cứu, giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì
thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên
cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;

b) Tổ chức lấy
ý kiến Nhân dân về dự án luật theo quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội (nếu
có);

c) Cơ quan chủ
trì thẩm tra tổ chức thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy
định tại Điều 71 của Luật này. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm nghiên cứu,
tiếp thu để chỉnh lý dự thảo luật theo quy định tại Điều 72 của Luật này.

3. Tại kỳ họp
thứ hai:

a) Đại diện cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật trình bày báo cáo giải trình,
tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật; kết quả lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật (nếu
có);

b) Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;

c) Quốc hội thảo
luận tại phiên họp toàn thể về dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp
toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.

Trong quá trình
thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có
trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án mà đại biểu Quốc hội
nêu;

d) Đối với những
vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án luật còn có ý kiến khác nhau thì
Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Cơ quan chủ trì
thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án
luật, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường
vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật trình
Quốc hội biểu quyết;

đ) Ủy ban thường
vụ Quốc hội chỉ đạo Tổng thư ký Quốc hội tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội
và kết quả biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.

4. Trong thời
gian giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội
chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật
theo trình tự sau đây:

a) Cơ quan chủ
trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự
án luật, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu,
giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên
họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Ủy
ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan để thảo luận về dự
thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo luật đã được chỉnh lý;

b) Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý và dự thảo luật đã được chỉnh lý; trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án luật có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm tra trong
việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo thì đại diện cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội trình dự án luật báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết
định;

c) Ủy ban thường
vụ Quốc hội gửi dự thảo luật đã được chỉnh lý và dự thảo báo cáo giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo đến Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Đoàn đại biểu
Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có
trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo tổng hợp ý kiến đến cơ
quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;

d) Cơ quan chủ
trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội
đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội trình dự án luật nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
luật và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban
thường vụ Quốc hội.

5. Tại kỳ họp
thứ ba, trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại
khoản 3 Điều 75 của Luật này.

Trong trường hợp
dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội
xem xét, quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 77. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một
phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự
thảo;

b) Đại diện cơ quan
chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện cơ
quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội thảo luận, chủ tọa phiên họp kết luận;

đ) Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan,
tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Cơ
quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại
biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ
chức có liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;

e) Chậm nhất là
07 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy
ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy
ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại
diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà
soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với
hệ thống pháp luật;

g) Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo.

Trường hợp cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính
phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ,
cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét,
quyết định;

h) Ủy ban thường
vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề
có ý kiến khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó
theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

i) Chủ tịch Quốc
hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại hai
phiên họp theo trình tự sau đây:

a) Tại phiên họp
thứ nhất, việc trình và thảo luận được thực hiện theo trình tự quy định tại các
điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, biểu
quyết những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo theo đề nghị
của cơ quan chủ trì thẩm tra để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

b) Trong thời
gian giữa hai phiên họp, cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp
luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo theo sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan chủ
trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc
hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có
liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự
thảo văn bản đã được chỉnh lý;

c) Chậm nhất là
05 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy
ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy
ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại
diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà
soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với
hệ thống pháp luật;

d) Tại phiên họp
thứ hai, đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về
việc chỉnh lý dự thảo.

Trường hợp cơ
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính
phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ,
cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét,
quyết định;

đ) Ủy ban thường
vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề
có ý kiến khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo
đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

e) Chủ tịch Quốc
hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 78. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua

1. Báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

2. Dự thảo đã
được chỉnh lý.

Điều 79. Ngày thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Ngày thông qua luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là
ngày Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua luật, pháp lệnh,
nghị quyết đó.

Mục
6. CÔNG BỐ LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT

Điều 80. Công bố luật, pháp lệnh, nghị quyết

1. Chủ tịch nước
công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được
thông qua.

Đối với pháp lệnh
đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Hiến pháp thì chậm
nhất là 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn bản
đến Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban thường vụ Quốc hội có
trách nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp gần
nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông qua lại
thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban thường vụ Quốc
hội thông qua lại. Trong trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch
nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.

Đối với luật,
pháp lệnh được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Chủ tịch
nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được
thông qua.

2. Tổng thư ký
Quốc hội công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc
hội chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.

Đối với nghị
quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Tổng thư ký Quốc
hội công bố nghị quyết chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông
qua.

Chương IV

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 81. Xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

1. Chủ tịch nước
tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo tổ chức soạn thảo lệnh, quyết định.

3. Chủ tịch nước
có thể yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo thảo luận về những vấn đề quan trọng của
dự thảo lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

4. Tùy theo nội
dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc đăng tải toàn
văn trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo. Việc đăng tải dự
thảo lệnh, quyết định phải bảo đảm thời gian ít nhất là 60 ngày, trừ trường hợp
văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia ý kiến.

5. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước.

6. Chủ tịch nước
xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định.

Chương V

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ
TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ

Mục 1. LẬP DANH MỤC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT, NGHỊ QUYẾT
CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI, LỆNH, QUYẾT
ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 82. Trách nhiệm lập danh mục văn bản quy định chi tiết

1. Thủ tướng
Chính phủ chỉ đạo lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ được giao ban hành.

2. Danh mục văn
bản quy định chi tiết do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm nghị định của Chính
phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, trong đó nêu rõ tên văn bản, cơ quan ban hành văn
bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn bản, dự kiến thời gian ban hành.

Điều 83. Triển khai xây dựng văn bản quy định chi tiết

1. Bộ Tư pháp
theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước; định kỳ hàng quý và hàng năm báo cáo Chính phủ.

2. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản theo thẩm
quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước trong danh mục văn bản quy định chi tiết; định kỳ
hàng quý và hàng năm báo cáo tiến độ, tình hình ban hành văn bản quy định chi
tiết với Bộ Tư pháp để theo dõi, tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Mục 2. XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Điều 84. Đề nghị xây dựng nghị định

1. Đề nghị xây
dựng nghị định được áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành nghị định quy định
tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.

2. Bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề
nghị xây dựng nghị định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách
trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

3. Đề nghị xây
dựng nghị định được xây dựng trên các căn cứ sau đây:

a) Đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

b) Chương trình
hành động của Chính phủ; yêu cầu quản lý, điều hành của Chính phủ cần phải điều
chỉnh bằng nghị định;

c) Kết quả
nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn;

d) Cam kết trong
điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.

Điều 85. Trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định

1. Tổng kết việc
thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên
quan đến đề nghị xây dựng nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội
liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.

Trong trường hợp
cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan tổng kết, đánh giá việc thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ
trách có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.

2. Tổ chức
nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định. Trong trường hợp
cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu,
thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.

3. Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng
nghị định; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm
cho việc thi hành nghị định sau khi được Chính phủ thông qua.

4. Chuẩn bị hồ
sơ đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại Điều 87 của Luật này.

5. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về đề
nghị xây dựng nghị định; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình tiếp thu các ý kiến
góp ý.

Điều 86. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị định

Cơ quan lập đề
nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm sau đây:

1. Cơ quan lập
đề nghị xây dựng nghị định lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định và cơ quan, tổ chức có liên quan;
nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định
cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị
định trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng
nghị định trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân
góp ý kiến.

Đối với trường
hợp lấy ý kiến bằng văn bản, tùy theo tính chất, nội dung của đề nghị xây dựng
nghị định, cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định gửi văn bản lấy ý kiến các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm
trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý
kiến.

Bộ Tài chính có
trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến
về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về tính tương thích
với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp
pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng nghị định với hệ thống pháp luật.

2. Cơ quan lập
đề nghị xây dựng nghị định có thể tổ chức lấy ý kiến trực tiếp, tổ chức hội thảo,
tọa đàm để lấy ý kiến về các chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định.

3. Cơ quan lập
đề nghị xây dựng nghị định tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến
góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của
Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định.

Điều 87. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định

1. Tờ trình đề
nghị xây dựng nghị định, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định;
mục đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị
định; mục tiêu, nội dung chính sách trong nghị định, các giải pháp để thực hiện
chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; thời gian dự kiến đề
nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm việc
thi hành nghị định.

2. Nội dung
đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, trong
đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải
pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách;
chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp;
lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá
tác động của thủ tục hành chính, đánh giá tác động về giới (nếu có).

3. Báo cáo tổng
kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến
chính sách.

4. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý.

5. Đề cương dự
thảo nghị định.

6. Tài liệu
khác (nếu có).

Điều 88. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị định

1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ,
Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng
nghị định.

2. Hồ sơ thẩm định gửi đến Bộ Tư pháp gồm các tài liệu quy định
tại Điều 87 của Luật này.

Tài liệu quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu
còn lại được gửi bằng bản điện tử.

3. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm thẩm định đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn 20 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Sự cần thiết
ban hành nghị định; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị định;

b) Sự phù hợp của
nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

c) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật, tính khả
thi của nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách dự kiến trong
đề nghị xây dựng nghị định;

d) Tính tương
thích của nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách trong đề
nghị xây dựng nghị định với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên;

đ) Sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính của chính sách trong đề
nghị xây dựng nghị định, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; việc
lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng nghị định, nếu chính
sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

e) Việc tuân thủ
trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị định.

4. Bộ Tư pháp kết
luận về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định đủ điều kiện trình Chính phủ, hồ
sơ cần tiếp tục hoàn thiện, hồ sơ không đủ điều kiện trình Chính phủ.

5. Báo cáo thẩm
định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định chậm nhất là 10
ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có
trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ
đề nghị xây dựng nghị định trình Chính phủ.

Điều 89. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định

1. Bộ, cơ quan
ngang bộ trình Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định.

2. Hồ sơ trình
Chính phủ bao gồm:

a) Các tài liệu
quy định tại Điều 87 của Luật này đã được chỉnh lý;

b) Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

c) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 của Luật này và tài liệu quy định tại điểm b khoản
này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

3. Văn phòng
Chính phủ có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của
các bộ, cơ quan ngang bộ và đề xuất đưa các đề nghị xây dựng nghị định vào thảo
luận tại các phiên họp của Chính phủ.

4. Chính phủ
xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định tại phiên họp của Chính phủ theo
trình tự sau đây:

a) Đại diện bộ,
cơ quan ngang bộ trình bày tờ trình đề nghị xây dựng nghị định;

b) Đại diện Bộ
Tư pháp trình bày báo cáo thẩm định;

c) Đại diện cơ
quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Chính phủ thảo
luận;

đ) Chính phủ biểu
quyết thông qua đề nghị xây dựng nghị định.

5. Trên cơ sở
thảo luận, thông qua đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính
phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây dựng nghị định soạn
thảo nghị quyết về đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét và ký ban hành.

Điều 90. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định

1. Cơ quan chủ
trì soạn thảo nghị định chịu trách nhiệm trước Chính phủ về nội dung, chất lượng
và tiến độ soạn thảo nghị định.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định có nhiệm vụ sau đây:

a) Tổ chức xây dựng dự thảo nghị định trên cơ sở các chính
sách đã được Chính phủ thông qua đối với nghị định quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 19 của Luật này; bảo đảm tính thống nhất của văn bản quy định chi tiết với
các quy định của văn bản được quy định chi tiết. Trong trường hợp quy định cụ
thể các chính sách đã được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
thì phải đánh giá tác động chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều
19 của Luật này;

b) Trong trường
hợp cần thiết, bộ, cơ quan ngang bộ có thể thành lập Ban soạn thảo. Ban soạn thảo
gồm Trưởng ban là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu bộ, cơ quan ngang
bộ chủ trì soạn thảo và các thành viên khác là đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo,
cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu các vấn đề
chuyên môn thuộc nội dung của dự thảo nghị định và có điều kiện tham gia đầy đủ
các hoạt động của Ban soạn thảo; bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo;

c) Tổ chức lấy
ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải
trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và đăng tải các tài liệu này trên Cổng
thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì
soạn thảo.

Điều 91. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định

Trong quá trình
soạn thảo nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến các đối tượng chịu
sự tác động trực tiếp của văn bản và bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này.

Điều 92. Thẩm định dự thảo nghị định

1. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ.

Đối với dự thảo
nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc
do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm
định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà
khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Tờ trình
Chính phủ về dự thảo nghị định;

b) Dự thảo nghị
định;

c) Báo cáo tổng
hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu
sự tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ;

d) Bản đánh giá
thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong dự thảo có quy định thủ tục hành
chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự thảo có quy định
liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

đ) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi
bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo nghị định với hệ thống pháp luật;
tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên;

b) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo nghị định với văn bản được quy định chi tiết đối với nghị định
quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này; sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị
định với các chính sách đã được thông qua trong đề nghị xây dựng nghị định đối
với nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này;

c) Sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo nghị định, nếu
trong dự thảo nghị định có quy định thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới trong dự thảo nghị định, nếu trong dự thảo nghị định có quy định
liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

d) Điều kiện bảo
đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành nghị định;

đ) Ngôn ngữ, kỹ
thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

4. Trong trường
hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những
vấn đề thuộc nội dung dự thảo nghị định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn
thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị định. Cơ
quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho
việc thẩm định dự thảo nghị định.

5. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định
tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều
kiện trình Chính phủ.

Báo cáo thẩm định
phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày
kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

6. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định
để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định và đồng thời gửi báo cáo giải trình,
tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi
trình Chính phủ dự thảo nghị định.

Điều 93. Hồ sơ dự thảo nghị định trình Chính phủ

1. Tờ trình
Chính phủ về dự thảo nghị định.

2. Dự thảo nghị
định.

3. Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

4. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của nghị định.

5. Bản đánh giá
thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong dự thảo có quy định thủ tục hành chính;
báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo, nếu trong dự thảo có
quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.

6. Nghị quyết của
Chính phủ thông qua các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định đối với nghị
định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.

7. Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

Điều 94. Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định trước khi
trình Chính phủ

Trong trường hợp
còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo nghị định thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm
Văn phòng Chính phủ tổ chức cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ trì
soạn thảo, Bộ Tư pháp, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên
quan để thảo luận trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý
kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có
liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ.

Điều 95. Xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc ban
hành nghị định

1. Đối với nghị
định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này, trước khi ban hành, Chính phủ
trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

2. Hồ sơ trình Ủy
ban thường vụ Quốc hội bao gồm:

a) Tờ trình của
Chính phủ về việc ban hành nghị định, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành;
các chính sách cơ bản và nội dung chính của dự thảo; phạm vi, đối tượng điều chỉnh
của văn bản; những vấn đề cần xin ý kiến và những vấn đề còn có ý kiến khác
nhau;

b) Dự thảo nghị
định;

c) Báo cáo đánh giá tác động của văn bản;

d) Báo cáo tổng
kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến
nội dung chính của dự thảo;

đ) Báo cáo thẩm
định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

e) Tài liệu
khác (nếu có).

3. Dự thảo nghị
định phải được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi Ủy
ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

4. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến, quyết định việc cho phép ban hành nghị định.

5. Chính phủ có
trách nhiệm tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 96. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị định

Chính phủ xem
xét, thông qua dự thảo nghị định theo trình tự sau đây:

1. Đại diện cơ
quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự thảo nghị định.

2. Đại diện Bộ
Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

3. Đại diện Văn
phòng Chính phủ nêu những vấn đề cần thảo luận.

4. Đại diện cơ
quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.

5. Chính phủ thảo
luận.

Cơ quan chủ trì
soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên
quan chỉnh lý dự thảo nghị định theo ý kiến của Chính phủ.

6. Chính phủ biểu
quyết thông qua dự thảo nghị định.

Trong trường hợp
dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn
đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ
quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua.

7. Thủ tướng
Chính phủ ký nghị định.

Mục 3. XÂY DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Điều 97. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ

1. Bộ, cơ quan
ngang bộ chủ trì soạn thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo sự phân công
của Thủ tướng Chính phủ.

2. Cơ quan được
giao chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

a) Tổ chức tổng
kết việc thi hành pháp luật; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội;
nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Đánh giá tác
động của từng chính sách trong dự thảo quyết định, trong đó phải nêu rõ vấn đề
cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác
động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so
sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan và lý
do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu
có);

c) Tổ chức soạn
thảo dự thảo quyết định với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng
Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan; có thể huy động sự tham gia của
các chuyên gia, nhà khoa học có đủ điều kiện và năng lực vào quá trình soạn thảo;

d) Lấy ý kiến đối
tượng chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách trong dự thảo quyết định và
cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng
đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn
văn dự thảo quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông
tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo quyết định trong thời hạn ít
nhất là 60 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

Đối với trường
hợp lấy ý kiến bằng văn bản, tùy theo tính chất, nội dung của dự thảo quyết định,
cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ. Cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản
trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

Bộ Tài chính có
trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến
về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về tính tương thích
với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp
pháp, tính thống nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;

đ) Tổng hợp,
nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình,
tiếp thu, chỉnh lý trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin
điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.

Điều 98. Thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

1. Bộ Tư pháp
có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi
trình Thủ tướng Chính phủ.

Đối với dự thảo
quyết định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc
do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm
định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà
khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm
định bao gồm:

a) Tờ trình Thủ
tướng Chính phủ về dự thảo quyết định;

b) Dự thảo quyết
định;

c) Báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ
chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp
ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

d) Bản đánh giá thủ tục hành chính, nếu trong dự thảo có quy
định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong
dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

đ) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi
bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm
định tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Đối tượng,
phạm vi điều chỉnh của dự thảo quyết định; sự cần thiết ban hành quyết định đối
với quyết định quy định tại Điều 20 của Luật này;

b) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo quyết định với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của
Nhà nước;

c) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;
tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên;

d) Sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết định,
nếu trong dự thảo quyết định có quy định liên quan đến thủ tục hành chính; việc
lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết
định có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

đ) Điều kiện bảo
đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành quyết định;

e) Ngôn ngữ, kỹ
thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

4. Trong trường
hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những
vấn đề thuộc nội dung dự thảo quyết định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn
thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo quyết định. Cơ
quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho
việc thẩm định dự thảo quyết định.

5. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định
tại khoản 1 Điều này và ý kiến về việc dự thảo đủ điều
kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Thủ tướng Chính phủ.

Báo cáo thẩm định
phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ gửi thẩm định.

6. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định để
chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp
thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình
Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định.

Điều 99. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Thủ tướng Chính phủ

1. Tờ trình về
dự thảo quyết định.

2. Dự thảo quyết
định đã được chỉnh lý sau khi có ý kiến thẩm định.

3. Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

4. Báo cáo đánh
giá tác động của chính sách trong dự thảo quyết định.

5. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

6. Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại
được gửi bằng bản điện tử.

Điều 100. Kiểm tra, xử lý hồ sơ, trình ký ban hành quyết định
của Thủ tướng Chính phủ

1. Trong thời hạn
10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ dự thảo quyết định, Văn phòng Chính phủ có
trách nhiệm kiểm tra hồ sơ dự thảo quyết định. Trường hợp còn có ý kiến khác
nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những vấn đề lớn
thuộc nội dung của dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng, Chủ
nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ
trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, lãnh đạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ có liên quan để giải quyết trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định.

Căn cứ vào ý kiến
tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên
quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định trình Thủ tướng Chính phủ.

Trong trường hợp
Thủ tướng Chính phủ có ý kiến về dự thảo quyết định thì cơ quan chủ trì soạn thảo
chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ chỉnh lý, hoàn thiện dự
thảo quyết định và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành quyết định.

2. Thủ tướng
Chính phủ xem xét, ký ban hành quyết định.

Mục 4. XÂY DỰNG, BAN HÀNH THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG
CƠ QUAN NGANG BỘ

Điều 101. Soạn thảo thông tư

1. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ đạo việc xây dựng, ban hành thông tư; phân công
đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì phối hợp với tổ chức pháp chế trong
trường hợp tổ chức pháp chế không chủ trì soạn thảo và các đơn vị có liên quan
tổ chức soạn thảo thông tư.

2. Trong quá
trình soạn thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến
đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến
phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến;
đăng tải toàn văn dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng
thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ trong thời gian ít nhất là 60 ngày.

Tùy theo tính
chất và nội dung của dự thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ có thể lấy ý kiến của
các bộ, cơ quan ngang bộ khác, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức khác, các chuyên gia, nhà khoa học.
Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản chậm nhất
là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

3. Đơn vị được
phân công soạn thảo chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, tiếp
thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo thông tư.

Điều 102. Thẩm định dự thảo thông tư

1. Tổ chức pháp
chế thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo thông tư trước
khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Đối với thông
tư có quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người dân,
doanh nghiệp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do tổ chức pháp chế
chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập hội đồng
tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các
chuyên gia, nhà khoa học.

2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Tờ trình về
dự thảo thông tư;

b) Dự thảo
thông tư;

c) Bản tổng hợp,
giải trình tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác
động trực tiếp của dự thảo; bản chụp ý kiến góp ý;

d) Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành
chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);

đ) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi
bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm
định tập trung vào những vấn đề sau đây:

a) Sự cần thiết
ban hành thông tư; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của thông tư;

b) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo thông tư với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của
Nhà nước;

c) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo thông tư với hệ thống pháp luật;
tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên;

d) Sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo thông tư, nếu
trong dự thảo thông tư có quy định thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề
bình đẳng giới trong dự thảo thông tư, nếu trong dự thảo thông tư có quy định
liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;

đ) Điều kiện bảo
đảm về nguồn nhân lực, tài chính để thi hành thông tư;

e) Ngôn ngữ, kỹ
thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

4. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của tổ chức pháp chế về nội dung thẩm định quy định
tại khoản 3 Điều này.

Báo cáo thẩm định
phải được gửi đến đơn vị chủ trì soạn thảo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ gửi thẩm định.

5. Đơn vị được
phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị có liên quan
nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo.

Điều 103. Hồ sơ dự thảo thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ

1. Tờ trình Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về dự thảo thông tư.

2. Dự thảo
thông tư.

3. Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

4. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của dự thảo.

5. Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành
chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có).

6. Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

Điều 104. Trình tự xem xét, ký ban hành thông tư

1. Đơn vị chủ
trì soạn thảo báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về dự thảo thông
tư.

Trong trường hợp
dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các đơn vị thì tổ chức pháp chế chủ
trì phối hợp với các đơn vị có liên quan thống nhất ý kiến trước khi trình Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Căn cứ vào ý kiến
tại cuộc họp này, đơn vị chủ trì soạn thảo phối hợp với tổ chức pháp chế, các đơn
vị có liên quan chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ.

2. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ xem xét, ký ban hành thông tư.

Chương VI

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN
DÂN TỐI CAO, CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TỐI CAO, TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Điều 105. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Dự thảo nghị
quyết được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Cổng thông tin
điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Dự thảo nghị
quyết phải gửi để lấy ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, bộ,
cơ quan ngang bộ có liên quan, Hội Luật gia Việt Nam và Liên đoàn luật sư Việt
Nam.

3. Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo nghị quyết.

4. Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao thành lập hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo nghị quyết của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có sự tham gia của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các
chuyên gia, nhà khoa học.

5. Dự thảo nghị
quyết được thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng
Bộ Tư pháp.

6. Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp để thông qua dự thảo nghị quyết.

Trong trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí
với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì có quyền báo
cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất.

7. Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.

Điều 106. Xây dựng, ban hành thông tư của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao

1. Dự thảo
thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Đơn vị được
phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật
liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan; chuẩn bị đề
cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và
tài liệu có liên quan đến dự thảo.

Dự thảo thông
tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong
thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tùy theo tính
chất và nội dung của dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi dự
thảo thông tư để lấy ý kiến của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và
cơ quan, tổ chức có liên quan.

3. Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo thông tư của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

4. Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành
thông tư.

Điều 107. Xây dựng, ban hành thông tư của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao

1. Dự thảo
thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

2. Đơn vị được
phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật
liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan; chuẩn bị đề
cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và
tài liệu có liên quan đến dự thảo.

Dự thảo thông
tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Tùy theo tính
chất và nội dung của dự thảo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết
định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện
kiểm sát quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.

3. Ủy ban kiểm
sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo
thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và
ký ban hành thông tư.

Điều 108. Xây dựng, ban hành quyết định của Tổng Kiểm toán
nhà nước

1. Dự thảo quyết
định của Tổng Kiểm toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức và chỉ đạo
việc soạn thảo.

2. Dự thảo quyết
định được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Kiểm toán nhà nước trong thời
gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

3. Tùy theo
tính chất và nội dung của dự thảo, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định gửi dự thảo
để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan.

4. Tổng Kiểm
toán nhà nước chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành quyết
định.

Chương VII

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN TỊCH

Điều 109. Xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch

1. Dự thảo nghị
quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc
Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.

3. Trong quá
trình soạn thảo dự thảo nghị quyết liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại
các khoản 1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này.

4. Trước khi
ban hành, dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn
Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được Hội đồng dân tộc,
Ủy ban của Quốc hội thẩm tra; dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với
Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được Bộ Tư pháp thẩm
định.

Hồ sơ, nội dung
thẩm định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 58; hồ sơ, nội dung thẩm
tra theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và Điều 65 của Luật này.

5. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm tiếp thu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.

6. Dự thảo được
thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
ban hành nghị quyết liên tịch.

Chủ tịch Quốc hội
hoặc Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng ký ban hành nghị quyết liên tịch.

Điều 110. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch

1. Dự thảo
thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận, phân công
cơ quan chủ trì soạn thảo.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.

3. Dự thảo được
đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời
gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Dự thảo thông
tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.

5. Dự thảo được
thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành
thông tư liên tịch.

Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ cùng ký ban hành thông tư liên tịch.

Chương VIII

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Điều 111. Đề nghị xây dựng nghị quyết

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức,
đại biểu Hội đồng nhân dân, có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội
đồng nhân dân để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh.

2. Đề nghị xây
dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Thường trực Hội đồng
nhân dân để xem xét, quyết định.

3. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
có nội dung quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này thì trước khi
trình Thường trực Hội đồng nhân dân phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến
Điều 116 của Luật này.

Điều 112. Nhiệm vụ của cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết

1. Tổng kết việc
thi hành pháp luật hoặc đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có
liên quan đến đề nghị xây dựng nghị quyết; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo nghị quyết.

Trong trường hợp
cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan tổng kết, đánh giá việc thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ
trách có liên quan đến nội dung của dự thảo.

2. Tổ chức
nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự thảo
nghị quyết.

3. Xây dựng nội
dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết; đánh giá tác động của
chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết
sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua.

4. Chuẩn bị hồ
sơ đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại Điều 114 của Luật này.

5. Tổ chức lấy
ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan về đề nghị xây dựng nghị quyết; tổng hợp,
nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý.

Điều 113. Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết

1. Cơ quan đề
nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động
trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết và các cơ quan, tổ
chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy
ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề
nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá
nhân tham gia ý kiến.

Ngoài đăng tải
để lấy ý kiến theo quy định tại khoản này, việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức
lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo hoặc
thông qua phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham
gia ý kiến.

2. Khi lấy ý kiến đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết thì cơ
quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm
ít nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến
góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị
xây dựng nghị quyết tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng
chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết.

3. Cơ quan, tổ
chức được lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm trả lời bằng
văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

Điều 114. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

1. Tờ trình đề
nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết;
mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị
quyết; mục tiêu, nội dung chính sách trong dự thảo nghị quyết và các giải pháp
để thực hiện chính sách đã được lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng
nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi
hành nghị quyết.

2. Nội dung đánh giá tác động của
từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu
ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực,
tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi
ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do lựa chọn;
xác định vấn đề giới và tác động giới của chính sách.

3. Báo cáo tổng
kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến
chính sách.

4. Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng
chịu sự tác động trực tiếp; bản chụp ý kiến góp ý.

5. Đề cương dự thảo nghị quyết.

6. Tài liệu
khác (nếu có).

Điều 115. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trình

1. Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ
và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết.

2. Hồ sơ đề nghị
xây dựng nghị quyết gửi để thẩm định gồm các tài liệu theo quy định tại Điều
114 của Luật này.

Tài liệu quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 114 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu
còn lại được gửi bằng bản điện tử.

3. Thời hạn thẩm
định đề nghị xây dựng nghị quyết là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.
Nội dung thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật này.

4. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của Sở Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại
khoản 3 Điều này và về đề nghị xây dựng nghị quyết đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều
kiện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

5. Báo cáo thẩm
định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết chậm nhất là 10
ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết có
trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý đề nghị xây dựng
nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo đề nghị xây dựng
nghị quyết đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết.

Điều 116. Thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị
quyết

1. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trình thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu
quyết theo đa số để thông qua các chính sách trong từng đề nghị xây dựng nghị
quyết.

2. Đối với đề
nghị xây dựng nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác quy định tại Điều 111 của Luật
này đề nghị thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thông qua các chính sách
trong đề nghị xây dựng nghị quyết.

Điều 117. Trình đề nghị xây dựng nghị quyết

1. Cơ quan, tổ
chức quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật này trình Thường trực Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết.

2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại khoản 1 Điều
27 của Luật này bao gồm:

a) Tờ trình về
đề nghị xây dựng nghị quyết;

b) Bản thuyết
minh về căn cứ ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết;
nội dung chính của nghị quyết; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem
xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại các khoản
2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này bao gồm:

a) Tài liệu quy
định tại Điều 114 của Luật này;

b) Báo cáo thẩm
định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp;

c) Quyết định
thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền
quy định tại Điều 116 của Luật này.

Điều 118. Phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị
quyết

Thường trực Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết; nếu chấp thuận thì
phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết và quyết định thời hạn
trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết; cơ quan, tổ chức trình
phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo
nghị quyết.

Điều 119. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo
nghị quyết

1. Tổ chức xây dựng dự thảo nghị quyết, bảo đảm sự phù hợp của
nội dung dự thảo nghị quyết với các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
đã giao quy định chi tiết đối với nghị quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của
Luật này; bảo đảm sự thống nhất của dự thảo nghị quyết với các chính sách đã được
thông qua đối với nghị quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật
này.

2. Tổ chức lấy
ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải
trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và các tài liệu khác; đăng tải các tài
liệu này trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 120. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng
thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít
nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong trường
hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ
quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm
ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến
góp ý vào dự thảo văn bản.

3. Cơ quan, tổ
chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.

Điều 121. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trình

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình phải được
Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân.

Trong trường hợp
cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề
thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn
thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết. Cơ
quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho
việc thẩm định dự thảo nghị quyết.

Đối với dự thảo
nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo
thì Giám đốc Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm đại diện
các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

Chậm nhất là 20
ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự
thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định.

2. Hồ sơ gửi thẩm
định bao gồm:

a) Tờ trình Ủy
ban nhân dân về dự thảo nghị quyết;

b) Dự thảo nghị
quyết;

c) Bản tổng hợp,
giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến
góp ý;

d) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi
bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm
định bao gồm:

a) Đối tượng,
phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết;

b) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật;

c) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo nghị quyết với các quy định trong văn bản đã giao cho Hội đồng
nhân dân quy định chi tiết; nội dung dự thảo nghị quyết với các chính sách
trong đề nghị xây dựng nghị quyết đã được thông qua theo quy định tại Điều 116
của Luật này;

d) Ngôn ngữ, kỹ
thuật soạn thảo văn bản.

4. Báo cáo thẩm
định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định
tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự án đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện
trình Ủy ban nhân dân.

Báo cáo thẩm định
phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Sở
Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

5. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,
hoàn thiện dự thảo nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm
theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình Ủy ban nhân dân
dự thảo nghị quyết.

Điều 122. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh

1. Hồ sơ dự thảo
nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm:

a) Tờ trình Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh về dự thảo nghị quyết;

b) Dự thảo nghị
quyết;

c) Báo cáo thẩm
định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ
quan, tổ chức, cá nhân;

đ) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ủy ban nhân dân để
chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước
ngày Ủy ban nhân dân họp.

Điều 123. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự
thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

1. Đối với dự
thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình thì Ủy ban nhân dân có trách
nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc
trình dự thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp.

2. Đối với dự
thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm
tham gia ý kiến bằng văn bản.

Chậm nhất là 25
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức trình dự thảo
nghị quyết phải gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để Ủy ban nhân dân tham gia ý kiến.

Chậm nhất là 20
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải gửi ý
kiến bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết.

Điều 124. Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp
thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân.

2. Chậm nhất là
15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan trình dự thảo nghị
quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân
công thẩm tra để thẩm tra. Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm:

a) Tờ trình Hội
đồng nhân dân về dự thảo nghị quyết;

b) Dự thảo nghị
quyết;

c) Báo cáo thẩm
định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết
do Ủy ban nhân dân trình; ý kiến của Ủy ban nhân dân và báo cáo giải trình, tiếp
thu ý kiến của Ủy ban nhân dân đối với dự thảo do Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình;

d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;

đ) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được
gửi bằng bản điện tử.

3. Nội dung thẩm
tra tập trung vào các vấn đề sau đây:

a) Nội dung của dự thảo nghị quyết và những vấn đề còn có ý
kiến khác nhau;

b) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của
Nhà nước;

c) Sự phù hợp của
nội dung dự thảo nghị quyết với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội
của địa phương;

d) Tính hợp hiến,
tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật.

4. Báo cáo thẩm
tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội
dung thẩm tra quy định tại khoản 3 Điều này và đề xuất những nội dung cần sửa đổi,
bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn
có ý kiến khác nhau.

Báo cáo thẩm
tra phải được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước
ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.

Điều 125. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh

1. Thường trực
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi
đến đại biểu Hội đồng nhân dân. Hồ sơ dự thảo nghị quyết bao gồm:

a) Tài liệu quy
định tại khoản 2 Điều 124 của Luật này;

b) Báo cáo thẩm
tra;

c) Ý kiến của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác
trình;

d) Tài liệu
khác (nếu có).

Tài liệu quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 124 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản
giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

2. Hồ sơ dự thảo
nghị quyết phải được gửi đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 07
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.

Điều 126. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Việc xem
xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân được tiến
hành theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết thuyết trình dự thảo nghị quyết;

b) Đại diện Ban
của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Hội đồng
nhân dân thảo luận;

d) Thường trực
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm
tra chủ trì, phối hợp cơ quan, tổ chức trình, Sở Tư pháp giải trình, tiếp thu,
chỉnh lý dự thảo nghị quyết;

đ) Hội đồng
nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.

2. Dự thảo nghị
quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết
tán thành.

3. Chủ tịch Hội
đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

Chương IX

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Điều 127. Đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh

1. Cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
có trách nhiệm đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Đề nghị xây
dựng quyết định phải nêu rõ tên gọi, sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi
điều chỉnh, nội dung chính của quyết định, dự kiến thời gian ban hành, cơ quan
chủ trì soạn thảo. Đối với quyết định quy định những vấn đề được giao quy định
chi tiết, cơ quan đề xuất phải rà soát văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
nhà nước trung ương và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp để xác định rõ
nội dung, phạm vi giao quy định cụ thể.

3. Văn phòng Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề
nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Điều 128. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh phân công cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:

a) Khảo sát,
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương; nghiên cứu đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và tài liệu có liên quan đến dự
thảo quyết định;

b) Xây dựng dự
thảo và tờ trình dự thảo quyết định;

c) Đánh giá tác động văn bản trong trường hợp dự thảo quyết
định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên; đánh giá tác động của thủ tục hành chính trong trường hợp
được luật giao, đánh giá tác động về giới (nếu có);

d) Tổng hợp,
nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo quyết định.

Điều 129. Lấy ý kiến về dự thảo quyết định của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh

Cơ quan chủ trì
soạn thảo tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản
và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định tại Điều 120 của Luật này.

Điều 130. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh

Sở Tư pháp có
trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Thời hạn, hồ sơ, nội dung thẩm định, báo cáo thẩm định được thực hiện theo quy
định tại Điều 121 của Luật này.

Điều 131. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh

Cơ quan chủ trì
soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất
là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp để chuyển đến các thành viên
Ủy ban nhân dân. Hồ sơ dự thảo quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của
Luật này.

Điều 132. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Tùy theo
tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp
dự thảo quyết định được xem xét, thông qua tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh thì theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan chủ trì soạn thảo thuyết trình dự thảo quyết định;

b) Đại diện Sở Tư
pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

c) Đại diện Văn
phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình bày ý kiến;

d) Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.

2. Dự thảo quyết
định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
biểu quyết tán thành.

3. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh ký quyết định.

Chương X

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN

Điều 133. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình. Căn cứ
vào tính chất và nội dung của nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
cấp huyện phân công cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo nghị quyết.

2. Căn cứ vào
tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức
lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực
tiếp của nghị quyết.

Cơ quan, tổ chức
có liên quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo nghị quyết.

Trong trường hợp
lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan,
tổ chức lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ
tiếp nhận ý kiến và bảo đảm ít nhất là 07 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để
các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết.

Điều 134. Thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp huyện

1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Chậm nhất là 10
ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự
thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện đến Phòng Tư pháp để thẩm định.

2. Thời hạn, hồ
sơ, nội dung thẩm định và báo cáo thẩm định thực hiện theo quy định tại các khoản
2, 3, 4 và 5 Điều 121 của Luật này.

Điều 135. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với
dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

1. Ủy ban nhân
dân cấp huyện có trách nhiệm xem xét, thảo luận và biểu quyết về việc trình dự
thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp.

2. Ủy ban nhân
dân cấp huyện có trách nhiệm gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu
có liên quan đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng
nhân dân cùng cấp chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Điều 136. Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp huyện

Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng
cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân. Chậm nhất là 10 ngày trước ngày
khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi dự thảo
nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra. Hồ sơ, nội
dung thẩm tra và báo cáo thẩm tra theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều
124 của Luật này.

Ban của Hội đồng
nhân dân được phân công thẩm tra có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm tra đến Thường
trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất
là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Điều 137. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp huyện

1. Việc xem
xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành
theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Ủy
ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;

b) Đại diện Ban
của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Hội đồng
nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.

2. Dự thảo nghị
quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết
tán thành.

3. Chủ tịch Hội
đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

Điều 138. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện

1. Dự thảo quyết
định của Ủy ban nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công và trực
tiếp chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân soạn thảo. Cơ quan soạn
thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định.

2. Căn cứ vào
tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý
kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
quyết định.

Cơ quan, tổ chức
có liên quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo quyết định.

Trong trường hợp
lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định thì cơ quan
lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất
là 07 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý
vào dự thảo quyết định.

Điều 139. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp
huyện

1. Phòng Tư
pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện
trước khi trình.

Chậm nhất là 10
ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo
quyết định đến Phòng Tư pháp để thẩm định.

2. Hồ sơ gửi thẩm
định bao gồm:

a) Tờ trình Ủy ban
nhân dân về dự thảo quyết định;

b) Dự thảo quyết
định;

c) Bản tổng hợp
ý kiến về dự thảo quyết định;

d) Tài liệu
khác (nếu có).

3. Nội dung và
báo cáo thẩm định thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 121 của
Luật này.

4. Chậm nhất là
05 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, Phòng Tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến
cơ quan soạn thảo.

Điều 140. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân cấp
huyện

1. Cơ quan soạn
thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp huyện chậm nhất là 03
ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy
ban nhân dân.

2. Hồ sơ dự thảo
quyết định trình Ủy ban nhân dân bao gồm:

a) Tài liệu quy
định tại khoản 2 Điều 139 của Luật này;

b) Báo cáo thẩm định.

Tài liệu quy định
tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 139 của Luật này và điểm b khoản này được gửi
bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

Điều 141. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp huyện

1. Tùy theo
tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp
xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân thì được tiến
thành theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;

b) Đại diện
Phòng Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

c) Ủy ban nhân
dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.

2. Dự thảo quyết
định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết
tán thành.

3. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân ký ban hành quyết định.

Chương XI

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN
DÂN CẤP XÃ

Điều 142. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã do Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức soạn thảo
và trình Hội đồng nhân dân.

2. Căn cứ vào
tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tổ chức
việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, của Nhân
dân tại các thôn, làng, buôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố
về dự thảo nghị quyết bằng các hình thức thích hợp.

Điều 143. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp xã

1. Dự thảo nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp
thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân cấp xã. Chậm nhất là 03 ngày trước ngày
khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân gửi tờ trình, dự thảo nghị
quyết và các tài liệu có liên quan đến các đại biểu Hội đồng nhân dân.

2. Việc xem
xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành
theo trình tự sau đây:

a) Đại diện Ủy
ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;

b) Đại diện Ban
của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Hội đồng
nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.

3. Dự thảo nghị
quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết
tán thành.

4. Chủ tịch Hội
đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

Điều 144. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Dự thảo quyết
định của Ủy ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức, chỉ
đạo việc soạn thảo.

2. Căn cứ vào
tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ
chức việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, của
Nhân dân tại các thôn, làng, buôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối
phố và chỉnh lý dự thảo quyết định.

Điều 145. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Tổ chức, cá
nhân được phân công soạn thảo gửi tờ trình, dự thảo quyết định, bản tổng hợp ý
kiến và các tài liệu có liên quan đến các thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã chậm
nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp.

2. Việc xem
xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã được tiến
hành theo trình tự sau đây:

a) Đại diện tổ
chức, cá nhân được phân công soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;

b) Ủy ban nhân
dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.

3. Dự thảo quyết
định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã biểu
quyết tán thành.

4. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã ký ban hành quyết định.

Chương XII

XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌN

Điều 146. Các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

1. Trường hợp
khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất,
khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; trường hợp cấp bách
để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội.

2. Trường hợp để
ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một
thời hạn nhất định.

3. Trường hợp cần
sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

Điều 147. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

1. Ủy ban thường
vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng,
ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trình Quốc hội
quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật,
nghị quyết của Quốc hội.

2. Chủ tịch nước
quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước.

3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ
tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ
tướng Chính phủ.

4. Thường trực
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong
xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng,
ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Điều 148. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

Việc xây dựng,
ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết
định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện
như sau:

1. Cơ quan chủ
trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo.

2. Cơ quan chủ
trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
về dự thảo văn bản. Trong trường hợp lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không
quá 20 ngày.

3. Trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản, cơ quan thẩm định có trách nhiệm
thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản.

Hồ sơ thẩm định
gồm tờ trình và dự thảo; hồ sơ thẩm tra gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định
và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

Điều 149. Hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua văn bản
quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

1. Hồ sơ trình
xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được
quy định như sau:

a) Hồ sơ trình
dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm tra;

b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, dự thảo quyết định của Chủ tịch
nước bao gồm tờ trình, dự thảo;

c) Hồ sơ trình dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định.

2. Trình tự xem xét, thông qua:

a) Quốc hội xem
xét, thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp gần nhất
theo trình tự quy định tại Điều 74 của Luật này;

b) Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều
77 của Luật này;

c) Chủ tịch nước
xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định ngay sau khi nhận được dự thảo lệnh, quyết
định theo trình tự quy định tại Điều 81 của Luật này;

d) Chính phủ
xem xét, thông qua dự thảo nghị định tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định
tại Điều 96 của Luật này;

đ) Thủ tướng
Chính phủ xem xét, ký ban hành quyết định ngay sau khi nhận được dự thảo văn bản
theo trình tự quy định tại Điều 100 của Luật này;

e) Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp gần nhất
theo trình tự quy định tại Điều 126 của Luật này;

g) Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp gần nhất theo
trình tự quy định tại Điều 132 của Luật này.

Chương XIII

HIỆU
LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG, CÔNG KHAI VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 150. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan ở Trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật
nhà nước.

2. Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh.

3. Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phải được
niêm yết công khai và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại
chúng ở địa phương. Thời gian và địa điểm niêm yết công khai do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cùng cấp quyết định.

4. Trong thời hạn
03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng
Công báo hoặc niêm yết công khai.

Cơ quan Công
báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm
nhất là 15 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan trung ương
ban hành, 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc
biệt ban hành kể từ ngày nhận được văn bản.

5. Văn bản quy
phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện tử là văn bản chính thức
và có giá trị như văn bản gốc.

6. Chính phủ quy định về Công báo và niêm yết văn bản quy phạm
pháp luật.

Điều 151. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

1. Thời điểm có
hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại
văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối
với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn
10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban
hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
cấp huyện và cấp xã.

2. Văn bản quy
phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu
lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng
thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện
thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc
Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ
ngày công bố hoặc ký ban hành.

Điều 152. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

1. Chỉ trong
trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các
quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực
trở về trước.

2. Không được
quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định
trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó
pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

b) Quy định
trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

3. Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở
về trước.

Điều 153. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một
phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
các trường hợp sau đây:

a) Bị đình chỉ
việc thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 164, khoản 2 Điều 165, khoản 2 và
khoản 3 Điều 166, khoản 2 và khoản 3 Điều 167 của Luật này. Trường hợp cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không
ra quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;

b) Cơ quan có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định ngưng hiệu lực của
văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội
phát sinh.

2. Thời điểm
ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản
phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.

3. Quyết định
đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải đăng
Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất là 03 ngày
kể từ ngày ra quyết định.

Điều 154. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

Văn bản quy phạm
pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

1. Hết thời hạn
có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.

2. Được sửa đổi,
bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà
nước đã ban hành văn bản đó.

3. Bị bãi bỏ bằng
một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Văn bản quy
phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết
thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.

Điều 155. Hiệu lực về không gian

1. Văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi
cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác.

2. Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào
thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể
ngay trong văn bản đó.

Trường hợp có sự
thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng
của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được xác định như
sau:

a) Trường hợp một
đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành
chính được chia vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thay thế;

b) Trường hợp
nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị
hành chính được nhập vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy
phạm pháp luật thay thế;

c) Trường hợp một
phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị
hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận
và bộ phận dân cư được điều chỉnh.

Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm
pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang
có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực
trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì
áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật
ban hành sau.

4. Trong trường
hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy
định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có
hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

5. Việc áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp
văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.

Điều 157. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm
pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân ban hành phải được đăng tải toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và đưa tin trên phương
tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo
quy định của pháp luật về bí mật nhà nước.

Văn bản quy phạm
pháp luật đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng
chính thức.

Chương XIV

GIẢI
THÍCH HIẾN PHÁP, LUẬT, PHÁP LỆNH

Điều 158. Các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh

1. Việc giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện trong trường hợp quy định của
Hiến pháp, luật, pháp lệnh có cách hiểu khác nhau trong việc thi hành.

2. Việc giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Đúng với tinh
thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

b) Phù hợp với
nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

c) Không được sửa
đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới.

Điều 159. Thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật,
pháp lệnh

1. Chủ tịch nước,
Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc
hội có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp
lệnh.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội
quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp
lệnh.

Điều 160. Trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp
lệnh

1. Tùy theo
tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban thường vụ Quốc hội
giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng
dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ủy ban thường vụ
Quốc hội giao Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp
của dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh với tinh thần và nội
dung của văn bản được giải thích.

2. Ủy ban thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật,
pháp lệnh theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ
quan được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc
toàn văn dự thảo;

b) Đại diện cơ
quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

c) Đại diện cơ
quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

d) Ủy ban thường
vụ Quốc hội thảo luận;

đ) Chủ tọa
phiên họp kết luận;

e) Ủy ban thường
vụ Quốc hội biểu quyết;

g) Chủ tịch Quốc
hội ký nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Điều 161. Đăng Công báo, đăng tải và đưa tin nghị quyết của Ủy
ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

1. Nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải được đăng
Công báo theo quy định tại Điều 150 của Luật này, đăng tải trên Cổng thông tin
điện tử của Quốc hội và đăng tải, đưa tin theo quy định tại Điều 157 của Luật
này.

2. Nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được áp dụng
cùng với văn bản được giải thích.

Chương XV

GIÁM
SÁT, KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 162. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo quy định
của pháp luật.

2. Việc giám
sát văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung
trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn
phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần
hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có
thẩm quyền xử lý cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản trái pháp luật.

Điều 163. Nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật

1. Sự phù hợp của
văn bản với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên.

2. Sự phù hợp của
hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.

3. Sự phù hợp của
nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.

4. Sự thống nhất
giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được
ban hành của cùng một cơ quan.

Điều 164. Giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái pháp luật

1. Quốc hội, Ủy
ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội,
Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại
biểu Hội đồng nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật.

2. Quốc hội bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

3. Ủy ban thường
vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán
nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội
quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên.

4. Hội đồng
nhân dân bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trái với nghị quyết của mình,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

5. Trình tự, thủ
tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật
về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Điều 165. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái pháp luật

1. Chính phủ kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ
quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền
địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

2. Thủ tướng
Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc
toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc
biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

3. Bộ Tư pháp
giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ,
cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Đối với nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đã bị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc
thi hành thì Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ
quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị hồ sơ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét
việc đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

4. Chính phủ
quy định chi tiết về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành.

Điều 166. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

1. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
do mình ban hành và do bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do
mình phụ trách.

Khi phát hiện
văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn
bản.

2. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền đề nghị Thủ tướng
Chính phủ đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật thuộc
ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban
thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

3. Trường hợp
văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt
có nội dung trái pháp luật không được xử lý theo quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc
thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.

Điều 167. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

1. Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật do mình ban hành; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới
ban hành.

Khi phát hiện
văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản.

Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành.

Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

2. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội
đồng nhân dân cấp huyện và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bãi bỏ.

Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng
nhân dân cấp xã và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp huyện bãi bỏ.

3. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới.

Chương XVI

HỢP
NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT, RÀ SOÁT,
HỆ THỐNG HÓA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 168. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy
phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật
được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ
ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

2. Việc hợp nhất
văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc
hội.

Điều 169. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật

1. Cơ quan nhà
nước sắp xếp các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật đang
còn hiệu lực, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển.

2. Việc pháp điển
hệ thống quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.

Điều 170. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

1. Cơ quan nhà
nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, hệ thống
hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật,
mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế – xã hội thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản
mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật.

Cơ quan, tổ chức
và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét đình chỉ việc
thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản
quy phạm pháp luật.

2. Hoạt động rà
soát văn bản phải được tiến hành thường xuyên, ngay khi có căn cứ rà soát văn bản.
Hoạt động hệ thống hóa văn bản phải được tiến hành định kỳ, kịp thời công bố Tập
hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực.

3. Ủy ban thường
vụ Quốc hội quyết định tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các cơ
quan nhà nước quyết định rà soát theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn căn cứ vào
yêu cầu quản lý nhà nước.

4. Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.

Chương XVII

ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH

Điều 171. Bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật

Nhà nước có
chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại
Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt
động xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.

Điều 172. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

2. Thông tư
liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp là
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp
tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy
phạm pháp luật khác.

3. Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 và Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

4. Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm
pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật
này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho
đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

Điều 173. Quy định chi tiết

Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết các điều, khoản được giao
trong Luật.

Luật này đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2015./.

 

 

CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI


Nguyễn Sinh Hùng

 

 

Có thể bạn quan tâm

Để lại bình luận